Tại hội thảo về hợp tác "3 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) diễn ra chiều 20/3, PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), đã chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm. Ông dẫn chứng câu chuyện về một nhóm giảng viên đã phát triển thành công thiết bị đo nước điện tử thông minh, có khả năng đọc chỉ số từ xa và đã đăng ký bản quyền.
Dù đã có doanh nghiệp muốn tiếp nhận công nghệ để sản xuất hàng loạt, nhưng quy trình chuyển giao lại rơi vào bế tắc. Lý do là đề tài sử dụng ngân sách nhà nước, nên kết quả nghiên cứu được xếp vào nhóm tài sản công. Các bên lúng túng trong việc định giá và chuyển nhượng quyền sở hữu, khiến doanh nghiệp không thể chờ đợi lâu và đành bỏ cuộc. Kết quả là một công trình hữu ích lại tiếp tục bị "cất trong ngăn kéo".

Nghiên cứu viên làm việc tại Phòng thí nghiệm bán dẫn Trung tâm nghiên cứu triển khai, Khu công nghệ cao TP HCM, tháng 12/2024. Ảnh: Quỳnh Trần
Theo PGS.TS Phạm Trần Vũ, hiện nay có 4 mô hình hợp tác phổ biến giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp, mỗi mô hình đều tồn tại những nút thắt riêng:
Nhà nước tài trợ: Có nguồn lực lớn và định hướng chiến lược nhưng thủ tục hành chính quá rườm rà. Nhiều đề tài mất vài năm để phê duyệt, đến khi triển khai thì công nghệ đã lạc hậu.
Nhà nước và Doanh nghiệp đồng tài trợ: Tăng mức độ cam kết của doanh nghiệp nhưng vẫn vướng quy định khắt khe về quản lý vốn ngân sách và tài sản công, làm giảm động lực của nhà đầu tư.
Doanh nghiệp đặt hàng trực tiếp: Đây là mô hình hiệu quả nhất vì bám sát nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, không đủ tiềm lực tài chính để theo đuổi các dự án R&D dài hơi và đầy rủi ro.
Doanh nghiệp hợp tác riêng với nhà khoa học: Tính linh hoạt cao và nhanh chóng, nhưng lại khiến vai trò của nhà trường bị mờ nhạt, khó hình thành nên các nhóm nghiên cứu mạnh và mang tính chiến lược lâu dài.
Lãnh đạo Đại học Bách khoa TP.HCM đánh giá rằng các mô hình có sự tham gia của Nhà nước thường có quy mô lớn nhưng thiếu linh hoạt, trong khi mô hình do doanh nghiệp dẫn dắt thì linh hoạt nhưng lại thiếu nguồn lực phát triển bền vững.
Để giải phóng các kết quả nghiên cứu khỏi "vùng xám" của tài sản công, PGS.TS Phạm Trần Vũ đề xuất Nhà nước nên chuyển dịch tư duy từ việc "đặt hàng sản phẩm" sang "tài trợ nghiên cứu". Khi coi ngân sách là khoản tài trợ, các ràng buộc hành chính sẽ được nới lỏng, tạo không gian sáng tạo và linh hoạt hơn cho các nhà khoa học.
Một ví dụ điển hình về thành công trong hợp tác "3 nhà" là Công ty Digisensor. Doanh nghiệp này đã phối hợp cùng các trường đại học để phát triển đồng hồ nước thông minh cung cấp cho Sawaco. Success này đến từ việc Nhà nước đưa ra "đầu bài" rõ ràng thông qua chủ trương chuyển đổi số, doanh nghiệp chủ động đầu tư công nghệ và nhà trường hỗ trợ sâu về chuyên môn nghiên cứu.
.jpg)
PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP HCM, phát biểu tại hội thảo, chiều 20/3. Ảnh: An Phương
Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển KH&CN (Sở KH&CN TP.HCM), cho biết một tin vui về chính sách: Quy định mới đã phân định rõ hai hình thức là "đặt hàng" và "tài trợ".
Với nhiệm vụ đặt hàng: Nhà nước giữ quyền sở hữu, áp dụng cho các dự án chiến lược.
Với nhiệm vụ tài trợ/đồng tài trợ: Đơn vị chủ trì (viện, trường, doanh nghiệp) được giao quyền sở hữu kết quả, có toàn quyền quyết định việc thương mại hóa mà không phải hoàn trả kinh phí.
Đặc biệt, cơ chế mới quy định tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận từ việc khai thác kết quả nghiên cứu. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ gỡ bỏ các nút thắt thể chế, bảo đảm quyền lợi cho nhà khoa học và tạo động lực mạnh mẽ cho doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển.